|

3. Đặc điểm không kiêng húy

1 Leave a comment on paragraph 1 0 Bản in Nội các quan bản ở Paris không kiêng húy các vua Lê cũng như các vua Nguyễn. Trong toàn bộ bản in này, cho đến nay, chỉ mới tìm thấy một chữ duy nhất khắc theo lối kiêng húy. Đó là chữ Trừ 除1 trong câu “niên thâm trừ dụng” trong khung viền mang tính chất chú thích ở phía trên khung in của tờ BK14, 48b. Lối kiêng húy ở đây là viết theo cách đảo phải trái và phía trên thêm bốn dấu nhảy, lối kiêng húy thường thấy thời Lê. Trừ là Lê Trừ, anh thứ hai của Lê Lợi, vua sáng lập ra triều Lê đầu thế kỷ XV1. Trong lúc đó, tên các vua Lê, kể cả vua sáng lập ra vương triều, lại không kiêng húy. Điều đó chỉ có thể giải thích như một trường hợp ngoại lệ, không nằm trong đặc điểm chung của bộ sử là không kiêng húy, và do một người nào đó trong số thợ khắc hoặc trong số người viết văn bản, vì theo thói quen kiêng húy đã có từ trước hay vì một lý do riêng, đã tự viết theo lối kiêng húy.

2 Leave a comment on paragraph 2 0 Từ năm 1934, E. Gaspardone đã coi đặc điểm không kiêng húy là một tiêu chí quan trọng để nhận diện bản in Nội các quan bản đời Lê Nhưng đặc điểm này chưa đủ để nhận diện bản Chính Hòa 18 vì trong số các bản in Quốc tử giám tàng bản cũng có bản không kiêng húy như bản VS.4, bản VHV.2330 – 2336. Trước đây có người đã dựa vào đặc điểm không kiêng húy để xác định bản VS.4 là bản Chính Hòa đời Lê. Nhưng sau khi phát hiện ra bản Nội các quan bản thì dễ nhận thấy các bản Quốc tử giám tàng bản, kể cả bản không kiêng húy, đều in từ một hệ mộc bản khác và sau hệ mộc bản Nội các quan bản (xem phần sau).

3 Leave a comment on paragraph 3 0 Nhiều tư liệu lịch sử và chứng cứ văn bản học cho biết, không hoặc không bắt buộc phải kiêng húy là một đặc điểm của các văn bản thời Lê Trung hưng.

4 Leave a comment on paragraph 4 0 Triều Lê sau khi thành lập, từ Lê Thái Tổ (1428 – 1433) đến Lê Hiến Tông (1498 – 1504), mỗi đời vua lên ngôi đều ban bố tên húy vua, húy tôn miếu và thể lệ kiêng húy cụ thể. Các văn bản chữ Hán thời này đều tuân thủ chế độ kiêng húy đó và để lại những dấu ấn văn bản học rõ nét. Riêng năm 1466, Lê Thánh Tông có “định rõ lại lệnh kiêng chữ húy”3, nhưng không cho biết nội dung cụ thể và trên thực tế văn bản học thì từ đời Lê Thánh Tông đã có những văn bản không kiêng húy4.

5 Leave a comment on paragraph 5 0 Sang thế kỷ XVI, dưới các đời vua Lê Túc Tông (1504), Lê Uy Mục (1505 – 1509), Lê Tương Dực (1509 – 1516), triều Lê suy thoái và chế độ kiêng húy không được thực hiện chặt chẽ như trước. Đặc biệt năm 1517, Lê Chiêu Tông (1516 – 1522) ban hành một chế độ kiêng húy mới:

6 Leave a comment on paragraph 6 0 “Sắc cho Thượng thư bộ Lễ là Đàm Thận Huy sửa định lại miếu húy và ngự danh (miếu húy: 20 chữ, ngự danh là hai chữ Y, Huệ). Phàm khi làm văn và viết, in sách, đều không cấm, tiếng đọc thì đều phải đọc tránh, hai chữ liền nhau như loại Trưng Tại đều không được viết liền nhau”5.

7 Leave a comment on paragraph 7 0 Sau đó, triều Lê sụp đổ, rồi lại trung hưng với vai trò hư vị bên cạnh chúa Trịnh. Trong các bộ sử biên niên thời Lê Trung hưng, không thấy ghi chép về chế độ kiêng húy và cũng không thấy ban hành một thể lệ mới thay thế thể lệ đời Lê Chiêu Tông.

8 Leave a comment on paragraph 8 0 Theo quy chế năm 1517 thì các tên húy, khi đọc phải tránh âm. Do đó, trong thời Lê Trung hưng, những tên đất trùng với tên húy đều phải đổi sang chữ khác, vì tên đất cũng như tên người là những tiếng thường sử dụng trong cuộc sống, trong giao tiếp xã hội. Có thể nêu lên nhiều dẫn chứng về mặt này:

9 Leave a comment on paragraph 9 0 Lê Trang Tông húy là Ninh, nên Phù Ninh phải đổi thành Phù Khang, Ninh Sơn thành Yên Sơn, Vũ Ninh thành Vũ Giàng, Tĩnh Ninh thành Tĩnh Gia…

10 Leave a comment on paragraph 10 0 Lê Anh Tông húy là Bang, nên An Bang phải đổi thành An Quảng.

11 Leave a comment on paragraph 11 0 Lê Kính Tông húy là Tân nên Tân Phong phải đổi thành Tiên Phong, Tân Phúc thành Tiên Phúc…

12 Leave a comment on paragraph 12 0 Lè Chân Tông húy là Hựu nên Thuần Hựu phải đổi thành Thuần Lộc…

13 Leave a comment on paragraph 13 0 Tên đất, tên người trùng với tên húy phải đổi thành chữ khác là thể lệ phổ biến của chế độ kiêng húy. Nhưng khác với thời Lê sơ trước đấy và thời Nguyễn sau đấy, theo quy định đời Lê Chiêu Tông thì khi viết văn và khắc in sách, tên húy không cấm, nghĩa là người ta có quyền viết và khắc những chữ húy, không phải đổi sang chữ khác hay phải viết theo lối kiêng húy như bỏ bớt nét, bỏ một phần chữ hay viết đảo phải trái, thêm dấu nháy lên đầu chữ…, chỉ khi đọc thì phải tránh âm húy. Như vậy là trên nguyên tắc, khi viết văn và in sách, không bắt buộc phải kiêng húy, nhưng trong thực tế, có thể do quán tính của truyền thống kiêng húy hoặc do thái độ tôn kính nào đó đối với vua Lê, có nơi, có lúc, người ta vẫn kiêng húy. Do đó, trên nhiều văn bản thời Lê Trung hưng như bản viết tay, sách in, văn bia, văn khắc trên chuông, khánh…, có văn bản kiêng húy, có văn bản không kiêng húy, có văn bản chỗ thì kiêng húy, chỗ thì không. Tình trạng văn bản về mặt kiêng húy trở nên phức tạp, lộn xộn, nhưng vẫn bộc lộ một đặc điểm quan trọng về mặt văn bản học là, trong thời kỳ đó, theo quy chế của nhà nước, viết văn và in sách không bắt buộc phải kiêng húy và vì thế, có những văn bản chính thức của vương triều không kiêng húy.

14 Leave a comment on paragraph 14 0 Tôi muốn lấy một bản in chính thức của vương triều và cùng thời với bản in Nội các quan bản để so sánh. Đó là bản Trùng san Lam Sơn thực lục do Hồ Sĩ Dương và các cộng sự của ông soạn lại và cho khắc in vào năm Vĩnh Trị 1 (1676) cùng dưới triều vua Lê Hy Tông (1675 – 1705). Trong bài Trùng san Lam Sơn thực lục tự của Hồ Sĩ Dương, có kiêng húy tên vua Lê theo lối viết đảo phải, trái và thêm bốn dấu nháy lên đầu chữ như chữ Tân2 (tên húy của Lê Kính Tông, 1600 – 1619) ở tờ 1a, chữ Bang3 (tên húy của Lê Anh Tông, 1557 – 1573) ở tờ 4b… Có lẽ vì đây là cuốn sử có ý nghĩa thiêng liêng đối với triều Lê, nên Hồ Sĩ Dương đã giữ truyền thống kiêng húy vua Lê trong bài tựa. Nhưng trong nội dung 3 quyển của cuốn sách thì hoàn toàn không kiêng húy các vua Lê từ vua sáng lập cho đến các vua đương thời. Đặc biệt chữ Tân trong bài tựa khắc theo lối kiêng húy, nhưng sau đó, trong nội dung 3 quyển lại không kiêng húy với tần số 7 lần xuất hiện ở các vị trí : Q2 – 2b, Q2 – 3a, Q2 – 3a, Q2 – 3a, Q2 – 3a, Q2 – 7b, Q3 – 6a. Thực tế văn bản học đó chứng tỏ quy chế năm 1517 đời Lê Chiêu Tông còn được áp dụng trong thời Lê Trung hưng và các văn bản in lúc bấy giờ không bắt buộc phải kiêng húy.

15 Leave a comment on paragraph 15 0 Đại Việt sử ký toàn thư bản Nội các quan bản được biên soạn và khắc in theo lệnh của chúa Trịnh, công bố với danh nghĩa bản in chính thức của Nội các thuộc phủ chúa, nên không những trong nội dung sách không kiêng húy mà cả lời tựa của Lê Hy cũng không kiêng húy các vua Lê.

16 Leave a comment on paragraph 16 0 Trong thời nhà Nguyễn (1802 – 1945), tình trạng không kiêng húy cũng có lúc tồn tại, nhưng không thể dùng để cắt nghĩa đặc điểm không kiêng húy của bản in Nội các quan bản bộ Đại Việt sử ký toàn thư.

17 Leave a comment on paragraph 17 0 Gia Long lên ngôi năm 1802 thì ngay năm sau, năm 1803 đã khôi phục chế độ kiêng húy: “Sắc bộ Lễ kính gửi chữ húy cho khắp trong ngoài. Phàm tên người, tên đất giống chữ thì đổi đi, làm văn thì tùy theo ý nghĩa mà thay chữ khác”6. Lúc ấy mới ban tên húy của Gia Long gồm ba chữ: Chủng, Noãn, Ánh. Đến năm Gia Long 6 (1807), ban bố thêm ba chữ húy: Luận, Hoàn, Lan và quy định rõ thể lệ kiêng húy như phải đọc tránh âm và khi viết phải dùng chữ khác, đối với những chữ húy như Khang, Khoát, Thuần thì đọc tránh âm và khi viết thêm bộ xuyên lên đầu7. Từ đó trở đi, quy chế kiêng húy càng ngày càng được bổ sung và quy định chặt chẽ cho đến đời Minh Mạng (1820 – 1840), Thiệu Trị (1841 – 1847), Tự Đức (1848 – 1883). Như vậy có mấy năm đầu đời Gia Long, khi lệ kiêng húy mới được khôi phục và quy định chưa chặt chẽ, thì trên một số văn bản trong thời gian này có tình trạng không kiêng húy. Nhưng lúc đó, triều Nguyễn chưa có tổ chức Nội các và do đó, không thể có một văn bản mang danh hiệu Nội các quan bản của triều Nguyễn.

18 Leave a comment on paragraph 18 0 Từ khi Nội các của triều Nguyễn được thành lập năm 1829 thì chế độ kiêng húy đã được quy định chặt chẽ và trong các đời Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, không thể tồn tại một bản in Nội các quan bản mà lại không nghiêm chỉnh chấp hành quy chế kiêng húy của vương triều8.

19 Leave a comment on paragraph 19 0 Từ sau đời Tự Đức rồi dưới thời Pháp thuộc, chế độ kiêng húy trở nên lỏng lẻo và bị xóa bỏ dần. Nhưng từ năm 1884, triều Nguyễn đã cho khắc in và ban bố bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục thì không có lý do gì để khắc in lại bộ Đại Việt sử ký toàn thư.

20 Leave a comment on paragraph 20 0 Tóm lại, đặc điểm không kiêng húy kết hợp với danh hiệu Nội các quan bản cho phép xác nhận bộ mộc bản này chỉ được khắc trong thời Lê Trung hưng, chứ không thể trong thời Nguyễn.


21 Leave a comment on paragraph 21 0 ⇡ 1 Trần Nghĩa, Đại Việt sử ký toàn thư bản Nội các quan bản không phải không có kiêng húy, tạp chí Hán – Nôm, 2-1989, tr.11.

22 Leave a comment on paragraph 22 0 ⇡ 2 E. Gaspardone, Bibliographie annamile, sdd, tr.64 – 65.

23 Leave a comment on paragraph 23 0 ⇡ 3 Đại Việt sử ký toàn thư, sđd, t.3, tr.198.

24 Leave a comment on paragraph 24 0 ⇡ 4 Theo kết quả nghiên cứu của nhà nghiên cứu Hán – Nôm Ngô Đức Thọ.

25 Leave a comment on paragraph 25 0 ⇡ 5 Đại Việt sử ký toàn thư, sđd, t.4, tr.88.

26 Leave a comment on paragraph 26 0 ⇡ 6 Đại Nam thực lục, Nxb Sử học, Hà Nội 1963, t.3, tr.144.

27 Leave a comment on paragraph 27 0 ⇡ 7 Đại Nam hội điển sự lệ, Q.121, từ 19.

28 Leave a comment on paragraph 28 0 ⇡ 8 Nguyễn Quang Ngọc, Niên đại bản in Nội các quan bản sách Đại Việt sử ký toàn thư có thể là năm 1856 được không?, Nghiên cứu lịch sử 66/1988, tr.71 – 72.


29 Leave a comment on paragraph 29 0 ⇡ 1 Chữ Trừ không kiêng húy: 除

30 Leave a comment on paragraph 30 0 ⇡ 2 Chữ Tân không kiêng húy: 新

31 Leave a comment on paragraph 31 0 ⇡ 3 Chữ Bang không kiêng húy:

Page 16

Source: https://www.dvsktt.com/dai-viet-su-ky-toan-thu/phien-ban-alpha-tieng-viet-1993/dai-viet-su-ky-toan-thu-tac-gia-van-ban-tac-pham-phan-huy-le/ii-van-ban-ban-chinh-hoa-va-cac-ban-sau-do/ban-chinh-hoa/3-dac-diem-khong-kieng-huy/