|

1. Tờ bìa Nội các quan bản

Tờ bìa Nội các quan bản

1 Leave a comment on paragraph 1 0 Ngoại trừ những yếu tố mới được đưa thêm vào gần đây như con dấu của P. Demiéville, của Société asiatique, ký hiệu sách của thư viện, tờ bìa chứa dựng nhiều yếu tố có ý nghĩa phản ánh niên đại như danh hiệu Nội các quan bản, kiểu chữ, hai hình tròn trang trí rồng – mây và, trong chừng mực nào đó, hai câu đối in vào hai bên tên sách.

2 Leave a comment on paragraph 2 0 Nội các quan bản có nghĩa là bản chính thức của một cơ quan nhà nước mang tên Nội các. Nhưng đây là Nội các của vương triều nào?

3 Leave a comment on paragraph 3 0 Nội các triều Nguyễn được thành lập năm Minh Mạng 10 (1829) thì ai cũng biết và được ghi chép rất rõ về năm thành lập cũng như về tổ chức, nhiệm vụ và quy chế hoạt động trong Đại Nam thực lục chính biên, Đại Nam hội điển sự lệ. Nếu Nội các quan bản là bản in của Nội các triều Nguyễn thì mộc bản phải khắc sau năm 1829. Cuối năm 1856, Tự Đức ra chỉ dụ biên soạn bộ quốc sử chính thức của triều Nguyễn do Phan Thanh Giản làm tổng tài. Đến năm Kiến Phúc 1 (1884), bộ sử đó được hoàn thành và khắc ván in. Đó là bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục gồm 53 quyền mà bộ mộc bản còn được bảo tồn gần như nguyên vẹn cho đến nay và được lưu giữ ở Trung tâm lưu trữ tại thành phố Hồ Chí Minh thuộc Cục lưu trữ Nhà nước. Sau khi triều Nguyễn chủ trương biên soạn bộ quốc sử mới, nhất là sau khi bộ quốc sử đó được khắc in và ban bố (1884), thì không có lý do gì triều Nguyễn lại khắc lại mộc bản bộ Đại Việt sử ký toàn thư là bộ quốc sử triều Lê. Như vậy, nếu Nội các quan bản là bản in của Nội các triều Nguyễn thì mộc bản của nó chỉ có thể được khắc trong khoảng thời gian sau năm 1829 và trước năm 1856, hay chậm nhất là năm 1884, không thể sớm hơn và cũng không thể muộn hơn. Đó là thời Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, khi mà chế độ kiêng húy đang được thì hành chặt chẽ và không thể có một văn bản mang danh hiệu Nội các mà không tuân thủ quy chế hiện hành ấy. Trong lúc đó, một đặc điểm nổi bật của bản in Nội các quan bản của bộ Đại Việt sử ký toàn thư tại Paris lại không kiêng húy các vua triều Nguyễn cũng như triều Lê (xem phần sau). Điều đó cho thấy bản Nội các quan bản này không phải của Nội các triều Nguyễn. Từ đây, một vấn đề mới được đặt ra là trước triều Nguyễn, trong quan chế Việt Nam đã có tổ chức Nội các chưa và bản in Nội các quan bản là của Nội các nào?

4 Leave a comment on paragraph 4 0 Trước hết cần kiểm tra lại những sử liệu có liên quan.

5 Leave a comment on paragraph 5 0 Đại Việt sử ký toàn thư chép: năm Quý Sửu niên hiệu Dương Đức 2 (1673):

6 Leave a comment on paragraph 6 0 “…hạ lệnh cho các quan văn vào Nội các của Vương phủ bàn việc. Việc chầu hầu ở Nội các bắt đầu từ đấy”1.

7 Leave a comment on paragraph 7 0 Khâm định Việt sử thông giám cương mục cũng chép tương tự: năm Quý Sửu, niên hiệu Dương Đức 2:

8 Leave a comment on paragraph 8 0 “Trịnh Tạc bắt đầu hạ lệnh cho văn thần vào trực trong phủ để bàn luận công việc. Văn thần vào hầu ở phủ chúa Trịnh gọi là nhập các bắt đầu từ đấy”2.

9 Leave a comment on paragraph 9 0 Sự kiện trên còn được chép trong Lịch triều tạp kỷ của Ngô Cao Lãng: năm Quý Sửu, niên hiệu Dương Đức 2:

10 Leave a comment on paragraph 10 0 “…ra lệnh cho các văn thần đều vào Nội các trong phủ chúa để bàn việc (chế độ vào hầu nhà chúa ở Nội các bắt đầu từ đấy)”3.

11 Leave a comment on paragraph 11 0 Những tư liệu được ghi chép thống nhất trong nhiều bộ sử biên niên trên cho phép xác nhận Nội các của phủ chúa Trịnh đã có ít nhất là từ năm 1673, nghĩa là trước năm Chính Hòa 18 (1697). Theo một thể lệ có trước năm 1737, mỗi tháng các quan phải vào hầu trong phủ chúa 9 phiên: Phủ đường 3 phiên vào ngày 2, 12, 22 và Nội các 6 phiên vào các ngày 6, 9, 16, 19, 26, 29. Từ năm 1737, số ngày hầu trong phủ chúa được giảm bớt 3 phiên4. Năm 1720, chúa Trịnh quy định lại phẩm phục của các quan văn võ, trong đó có điều qui định áo mũ của quan văn khi vào hằu ở Nội các là áo thanh cát và mũ sa thâm5. Năm 1736, Tham tụng Cao Huy Trạc kiêm Nội các đại học sĩ. Tham tụng là chức quan đứng đầu phủ chúa, trong trường hợp này kiêm giữ chức quan đứng đầu Nội các6.

12 Leave a comment on paragraph 12 0 Hiện nay chưa tìm thấy quyết định thành lập Nội các cũng như quy chế hoạt động của Nội các thời Lê – Trịnh. Nhưng tư liệu thư tịch đã phản ánh khá rõ sự tồn tại của Nội các như một cơ quan trực thuộc phủ chúa Trịnh, đứng đầu là Nội các đại học sĩ cùng với quy đỉnh ngày vào hầu chúa và phẩm phục của văn quan khi “nhập các”. “Nhập các” là một thể chế của các quan khi vào làm việc ở Nội các.

13 Leave a comment on paragraph 13 0 Tổ chức Nội các tồn tại khá lâu dài trong thời Lê – Trịnh và hình như cả trong thời Tây Sơn nữa.

14 Leave a comment on paragraph 14 0 Bia tiến sĩ “Cảnh Hưng nhị thập tứ niên (1763) Quý Mùi khoa tiến sĩ đề danh bi ký” hiện còn tại Văn Miếu, Hà Nội, với bài văn bia do Lê Quý Đôn soạn, ghi nhận sự tồn tại của Nội các với chức năng liên quan đến việc thi cử tuyển chọn nhân tài7.

15 Leave a comment on paragraph 15 0 Tại đình xã Thượng Lâm, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây, còn lưu giữ một bản thần tích do Nguyễn Bảo soạn năm 1472 và văn bản còn lại được sao chép vào năm Vĩnh Hựu 5 (1793), trong đó cũng ghi nhận sự tồn tại của Nội các8.

16 Leave a comment on paragraph 16 0 Trong bài thơ “Thu phụng quốc tang cảm thuật” làm năm 1792 để nói lên nỗi xúc động và đau buồn của ông khi Quang Trung từ trần, Phan Huy Ích có lời tiêu dẫn : “Trung tuần tháng 6, tôi được thăng chức Nội các thị trung ngự sử”9. Trong vương triều Quang Trung, ít nhất là năm 1792, cũng có tổ chức Nội các và Phan Huy Ích đã từng giữ chức Thị trung ngự sử của tòa Nội các.

17 Leave a comment on paragraph 17 0 Sự tồn tại của Nội các thuộc phủ chúa Trịnh được xác nhận qua nhiều tư liệu lịch sử. Tôi xin lưu ý thêm, đoạn chép về Nội các của phủ chúa Trịnh năm 1673 trong Đại Việt sử ký toàn thư, phần Bản kỷ tục biên Q.19 là do Lê Hy và những người cộng sự của ông viết vào năm 1697, nghĩa là 24 năm sau. Có thể coi đó là những tư liệu do người đương thời viết và khắc in với giá trị đương đại đáng tin cậy của nó.

18 Leave a comment on paragraph 18 0 Trong Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú không nói đến Nội các thời Lê – Trịnh trong Quan chức chí, nhưng có đề cập đến Nội các trong phần Lễ nghi chíVăn tịch chí.

19 Leave a comment on paragraph 19 0 Lễ nghi chí có đoạn viết:

20 Leave a comment on paragraph 20 0 “Các quan văn võ và nội giám khi chấp sự hành lễ và trông coi công việc thì dùng áo thanh cát, mũ ô sa. Quan văn võ khi vào hầu ở Nội các cũng thế”10.

21 Leave a comment on paragraph 21 0 Mở đầu Văn tịch chí, Phan Huy Chú viết :

22 Leave a comment on paragraph 22 0 “Từ thời Trung hưng về sau, tuy đã có tìm tòi, nhưng sau khi đã tản mác đi, thu thập lại cũng khó, Nội các thì không có kho chứa sách riêng”11.

23 Leave a comment on paragraph 23 0 Nội các ở đây chỉ có thể là Nội các thời Lê – Trịnh, vì Lịch triều hiến chương loại chí chỉ chép sự việc cho đến hết thời Lê – Trịnh và tác phẩm được hoàn thành vào năm 1819, dâng lên Minh Mạng năm 1821, nghĩa là trước khi Nội các triều Nguyễn thành lập năm 1829. Qua đoạn trên, Phan Huy Chú không những xác nhận thời Lê – Trịnh có Nội các mà còn cho biết một chức năng của Nội các là tàng trữ sách và có kho chứa sách. Chỉ riêng thông tin này đã cho phép nhìn nhận và giải thích một văn bản thời Lê – Trịnh mang danh hiệu Nội các quan bản.

24 Leave a comment on paragraph 24 0 Nội các thuộc phủ chúa Trịnh được thành lập chậm nhất là từ năm 1673 dưới thời Tây Đô Vương Trịnh Tạc (1657 – 1682). Theo lời tựa của Lê Hy, Đại Việt sử ký toàn thư được khắc in năm Chính Hòa 18 (1697) thời Định Vương Trịnh Căn (1682 -1709). Lúc bấy giờ, Lê Hy giữ chức Thượng thư bộ Hình từ năm 1693, cùng với Nguyễn Quán Nho giữ chức Thượng thư bộ Binh, đều được cử làm Tham tụng đứng đầu các quan chức của phủ chúa. Lê Hy đã vâng lệnh chúa Trịnh soạn tiếp phần Bản kỷ tục biên Q.19 và hoàn chỉnh bộ Đại Việt sử ký toàn thư chép sử cho đến năm 1675. Cùng tham gia biên soạn với Lê Hy còn có nhiều quan chức của phủ chúa, trong đó có 5 Bồi tụng là Nguyễn Quý Đức, Nguyễn Công Đổng, Vũ Thanh, Hà Tông Mục và Nguyễn Hành. Bộ Đại Việt sử ký toàn thư do nhóm Lê Hy tập đại thành tuy lời tựa mang niên hiệu Chính Hòa (1680 – 1705) của vua Lê Hy Tông (1676 – 1705), nhưng biên soạn theo lệnh của chúa Trịnh và do các quan chức cao cấp của phủ chúa đảm nhiệm. Do đó bộ sử được khắc in và ban hành với danh hiệu Nội các quan bản tức là bản in chính thức, mang tính chất nhà nước của Nội các thuộc phủ chúa.

25 Leave a comment on paragraph 25 0 Về kiểu chữ, trên từ bìa có hai chữ đáng lưu ý. Đó là chữ Việt 越 hơi đá thảo trong tên sách Đại Việt sử ký toàn thư khác với chữ Việt 越 trong sách và chữ sự 事 với nét ngang hơi dài trong lúc các chữ sự 事 trong sách đều có nét ngang ngắn.

26 Leave a comment on paragraph 26 0 Cho đến nay, ngành văn bản học Hán – Nôm Việt Nam chưa xây dựng được một hệ thống tiêu chí đầy đủ về các kiểu chữ Hán và sự biến đổi của nó qua các thời kỳ lịch sử. Tuy nhiên, sự so sánh, đối chiếu với những kiểu chữ có niên đại xác định rõ ràng, cũng có thể cho phép giải thích hiện tượng trên.

27 Leave a comment on paragraph 27 0 Sách Trùng san Lam Sơn thực lục do Hồ Sĩ Dương soạn lại và được khắc ván in vào năm Vĩnh Trị 1 (1676), trước năm Chính Hòa 18 (1697) 21 năm và cũng do thợ Hồng Lục, Liễu Chàng khắc in. Sách này, ở trong nước chỉ còn những bản chép tay, nhưng tại Paris, GS Hoàng Xuân Hãn còn giữ được một bản in từ mộc bản đời Vĩnh Trị và năm 1980, GS đã gửi tặng văn bản quý giá đó cho Viện Thông tin khoa học xã hội. Sách in trên giấy bản đã ngả màu, quanh rìa bị mủn nát và giữa hai mặt của mỗi tờ được lót một tờ giấy trắng mỏng để bảo vệ. Bìa sách đã bị mất, bài Ngự chế Lam Sơn thực lục tự của Lê Lợi cũng bị mất, thay bằng bản chép tay. Sách còn đủ bản in bài Trùng sơn Lam Sơn thực lục tự của Hồ Sĩ Dương (5 tờ) và Q.2 (13 tờ), các Q.1 (16 tờ) mất tờ 4 thay bằng tờ chép tay, Q.3 (13 tờ) mất tờ 1 thay bằng tờ chép tay. Đáng lưu ý là trong Trùng san Lam Sơn thực lục tự có 3 chữ Việt khắc theo lối đá thảo (từ 2a và 3a) giống hệt như chữ Việt trên tờ bìa Nội các quan bản, trong lúc chữ Việt trong Q.3, 10a lại viết chân phương như: trong các quyển của Đại Việt sử ký toàn thư.

28 Leave a comment on paragraph 28 0 Nói chung, chữ sự trong các bản in và văn bia thời Lê – Trịnh thường dùng chữ sự với nét ngang ngắn và sang thời Nguyễn chuyển sang dùng chữ sự với nét ngang dài. Tuy nhiên, ngay trên văn bia thời Lê – Trịnh, trong lúc dùng phổ biến chữ sự với nét ngang ngắn như trong các quyển của Nội các quan bản, thì cũng có một số bia mà tên bia được khắc chữ to trên trán bia lại dùng con dấu nào đó. Hai hình tròn đối xứng nhau và có những chi tiết trang trí ít nhiều khác nhau, không thể in từ một con dấu chung, có thể chồng khít lên nhau. Đây là hai hình tròn trang trí được khắc cùng một lúc với bìa sách và là bộ phận cấu thành của tờ bìa.

29 Leave a comment on paragraph 29 0 Trên tờ bìa còn có đôi câu đối, hay còn gọi là hai câu tán, trong đó chữ lịch triều làm cho có người hiểu là triều đại đã qua và, do đó, Đại Việt sử ký toàn thư chép sử đến thời Lê – Trịnh thì bản in Nội các quan bản của bộ sử đó phải có niên đại chậm hơn, thuộc về triều đại sau tức triều Nguyễn.

30 Leave a comment on paragraph 30 0 Thực ra, chữ lịch, theo Từ nguyên, có nhiều nghĩa, trong đó có nghĩa là đã qua, chỉ sự việc đã qua, sự tích đã trải qua. Chữ triều vừa có nghĩa là triều đại do một dòng họ làm vua như triều Lý, triều Trần…, vừa có nghĩa là một triều vua hay niên hiệu của một đời vua như triều Lê Thái Tổ, triều Gia Long… Vì vậy câu “Vựng lịch triều chi sự tích” không có gì mâu thuẫn với niên đại Chính Hòa 18 của văn bản Nội các quan bản. Trong kho thư tịch cổ của ta và của Trung Quốc, có không ít những tên sách mang chữ lịch triều hay lịch đại mà chép sự việc xảy ra cho đến triều đại hay triều vua đang trị vì. Xin nêu vài ví dụ :

  • 31 Leave a comment on paragraph 31 0
  • Đại Việt lịch triều đăng khoa lục do Nguyễn Hoàn, Võ Miên, Phan Trọng Phiên, Uông Sĩ Lãng biên soạn với lời tựa đề năm Cảnh Hưng 40 (1779), chép các khoa thi Hội và những người trúng tuyển từ đời Lý đến cuối đời Lê.
  • Lịch triều thi sao của Bùi Huy Bích soạn vào cuối đời Lê, chép những bài ngự chế và thơ của các tác giả soạn từ đời Lý đến đời Lê Cảnh Hưng.
  • Lịch triều sách lược của Trần Quang Hiến, khắc ván in năm Gia Long 13 (1814) sưu tập những bài văn sách của các trường học và các kỳ thi từ năm Hồng Đức 25 (1493) đến năm Gia Long 6 (1807).

32 Leave a comment on paragraph 32 0 Hơn nữa, chữ lịch triều trên bìa Nội các quan bản không nằm trong tên sách, không phải là bộ phận cấu thành của tên sách như những trường hợp trên, mà nằm trong hai câu tán với nội dung biểu thị một quan điểm sử học đương thời. Quan điểm đó cũng đã được Lê Hy nêu lên trong bài Tựa Đại Việt sử ký tục biên in trong Quyển thủ của Đại Việt sử ký toàn thư:

33 Leave a comment on paragraph 33 0 “Nghĩ sâu sắc rằng, những điều ghi chép trong sử tỏ rõ phải trái, công bằng, yêu ghét, vinh hơn hoa cổn, nghiêm hơn búa rìu, thực là cái cân, cái gương của muôn đời”.

34 Leave a comment on paragraph 34 0 Hai câu tán trên tờ bìa, xét về ngữ nghĩa chữ lịch triều cũng như xét về ý nghĩa nội dung của cả hai vế, không ảnh hưởng gì đến niên đại Chính Hòa 18 của văn bản Nội các quan bản bộ Đại Việt sử ký toàn thư.

35 Leave a comment on paragraph 35 0 Tóm lại, tất cả các yếu tố có ý nghĩa phản ánh niên đại trên tờ bìa Nội các quan bản đều không có gì trái, hay nói cách khác, đều phù hợp với niên đại Chính Hòa 18 của ván khắc Đại Việt sử ký toàn thư.


36 Leave a comment on paragraph 36 0 ⇡ 1 Đại Việt sử ký toàn thư, BK19, 35a, bản dịch Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1968, T.4, tr.828.

37 Leave a comment on paragraph 37 0 ⇡ 2 Khâm định Việt sử thông giám cương mục, CB33, 36a, bản dịch Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội
1960, t.16, tr.31.

38 Leave a comment on paragraph 38 0 ⇡ 3 Ngô Cao Lãng, Lịch triều tạp kỷ, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1975, t.1, tr.34.

39 Leave a comment on paragraph 39 0 ⇡ 4 Đại Việt sử ký toàn thư, sđđ, t.1, tr.34.

40 Leave a comment on paragraph 40 0 ⇡ 5 Ngô Cao Lãng, Lịch triều tạp kỷ, sđđ, t.1, tr.316.

41 Leave a comment on paragraph 41 0 ⇡ 6 Ngô Cao Lãng, Lịch triều tạp kỷ, sđđ, t.2, tr.9.

42 Leave a comment on paragraph 42 0 ⇡ 7 Phạm Văn Thấm, Thêm một cứ liệu về Nội các, Tạp chí Hán – Nôm, 1-1990, tr.51 – 52.

43 Leave a comment on paragraph 43 0 ⇡ 8 Tạ Ngọc Liễn, Một văn bản chép tay cách đây 251 năm, báo Nhân dân ngày 25-11-1990.

44 Leave a comment on paragraph 44 0 ⇡ 9 Thơ văn Phan Huy Ích, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1978, t.2, tr.73.

45 Leave a comment on paragraph 45 0 ⇡ 10 Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1961, t.2, tr.109.

46 Leave a comment on paragraph 46 0 ⇡ 11 Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, sđđ, t.4, tr.41.

Page 14

Source: https://www.dvsktt.com/dai-viet-su-ky-toan-thu/phien-ban-alpha-tieng-viet-1993/dai-viet-su-ky-toan-thu-tac-gia-van-ban-tac-pham-phan-huy-le/ii-van-ban-ban-chinh-hoa-va-cac-ban-sau-do/ban-chinh-hoa/1-to-bia-noi-cac-quan-ban/