|

Các bản in sau Chính Hòa

1 Leave a comment on paragraph 1 0 Khi nghiên cứu các bản in Đại Việt sử ký toàn thư, Trần Văn Giáp phân định làm ba loại:

  • 2 Leave a comment on paragraph 2 0
  • 1. Bản in trong nước khắc in cuối triều Lê (1697).
  • 2. Bản in lại ở Nhật Bản (1884).
  • 3. Bản in đời Tây Sơn với tên sách Đại Việt sử ký tiền biên1.

3 Leave a comment on paragraph 3 0 Trần Kinh Hòa chia làm bốn loại :

  • 4 Leave a comment on paragraph 4 0
  • 1. Bản in năm Chính Hòa thứ 18 (1697).
  • 2. Bản in đời Tây Sơn (1800),
  • 3. Bản khắc in lại của Quốc tử giám Thuận Hóa (Huế) với những mộc bản khắc làm nhiều đợt từ Minh Mạng đến cuối Tự Đức và có thể sau nữa.
  • 4. Bản in hoạt tự ở Nhật do Hikida Toshiaki (Dẫn Điều Lợi Chương) hiệu đính (1884)2.

5 Leave a comment on paragraph 5 0 Theo tôi, bản in đời Tây Sơn không thể coi là một bản in Đại Việt sử ký toàn thư, vì Đại Việt sử ký tiền biên tuy có dựa vào Đại Việt sử ký toàn thư nhưng là một tác phẩm khác3.

6 Leave a comment on paragraph 6 0 Còn bản in hoạt tự ở Nhật Bản năm 1884, theo sự hiệu khám của Trần Kinh Hòa, là dựa vào bản in mộc bản của Việt Nam thuộc hệ thống loại “Quốc tử giám tàng bản”, khắc in vào đời Tự Đức (1848 – 1883). Nguyên bản đã không tốt (kiêng húy các vua Nguyễn, nhiều tờ thiếu, nhiều chữ mờ), người hiệu đính lại không đối chiếu cẩn thận cùng với những sai sót khi xếp chữ dẫn đến một bản in rất tồi. Trần Kinh Hòa đã nhận xét về bản in này là “nhan nhản những chữ sai, những câu đọc bất thông, thiếu chữ, thiếu văn, lầm lẫn, quả thật là đáng tiếc”4. E. Gaspardone coi bản in ở Nhật Bản chỉ có giá trị “cung cấp một dị bản cho bản Quốc tử giám5. Vì vậy, trong bài nghiên cứu này, tôi cũng không đề cập đến bản in lại năm 1884 ở Nhật Bản.

7 Leave a comment on paragraph 7 0 Những bản in sau Chính Hòa mà tôi khảo tả và đối chiếu sau đây chỉ giới hạn trong những bản in mộc bản bộ Đại Việt sử ký toàn thư ở trong nước, chủ yếu ở Hà Nội.

8 Leave a comment on paragraph 8 0 Không kể những bản chép tay và những bản in quá tàn khuyết, hiện nay chúng tôi đã thống kê và nghiên cứu 8 bản in Đại Việt sử ký toàn thư ở trong nước6.

9 Leave a comment on paragraph 9 0 Thư viện Viện Nghiên cứu Hán – Nôm (trước vốn của Thư viện Khoa học xã hội) tàng trữ 6 bản in Đại Việt sử ký toàn thư mang những ký hiệu sau đây :

10 Leave a comment on paragraph 10 0 1. Bản A.3/1-4: Bản in đầy đủ, ngoài bìa ghi rõ “Quốc tử giám tàng bản”. Chữ in đẹp, nhiều tờ rất giống bản Chính Hòa, nhưng kiêng húy các vua Nguyễn rất triệt để theo lối bỏ một nét hay bỏ bộ. Ví dụ : chữ “chủng” (tên húy Gia Long) 種 → 重, chữ “miên” (tên húy Thiệu Trị) , chữ “tông” (tên húy Thiệu Trị) 宗 → , chữ “hiệu” (tên húy Minh Mạng) 皎 → 交 hay đổi dùng chữ “hạo” 皓 → .

11 Leave a comment on paragraph 11 0 2. Bản VHV. 179/1-9: Đây cũng là bản “Quốc tử giám tàng bản”, kiêng húy các vua Nguyễn như bản A.3, nhưng không được đầy đủ. Quyển thủNgoại kỷ đủ, phần Bản kỷ thiếu toàn bộ Q.1, Q.2, 31 tờ đầu Q.3, thiếu và thay bằng tờ viết tay các tờ 12, 13, 14, 15 Q.5, thiếu 1 tờ đầu Q.14. Bản này cùng thuộc một hệ thống mộc bản của A.3, nhưng có phần tàn khuyết.

12 Leave a comment on paragraph 12 0 3. Bản A.2694: Bản này thiếu hẳn Quyển thủNgoại kỷ, chỉ bắt đầu từ Bản kỷ Q.1. Phần Bản kỷ cũng thiếu các Q.14, Q.15, Q.16, Q.17. Các chữ kiêng húy các vua nhà Nguyễn, cho đến Tự Đức đều bị bỏ một nét như “tông” (tên húy Minh Mạng) 宗 → , bỏ bộ như “thời” (tên húy Tự Đức) 時 → 寺. Đây cũng là một bản in đời Nguyễn, nhưng khác với bản A.3 và VHV.179.

13 Leave a comment on paragraph 13 0 4. Bản VHV. 1499/1-11: Bản này thiếu Quyển thủ, gồm các bài tựa, biểu, phàm lệ, mục lục…, chỉ còn Ngoại kỷ Q.1 – 5 và Bản kỷ Q.4 – 19. So với bản Chính Hòa và những bản trên, bản này chữ in xấu. Nói chung kiêng húy các vua Nguyễn, nhưng không triệt để và thống nhất. Q.18 – 19 có chữ không kiêng húy và có chữ chỉ bỏ nét chứ không bỏ bộ như các bản trên. Chữ “thời” (tên húy Tự Đức) 時, các bản trên bỏ bộ “nhật” 寺, bản này chỉ bỏ nét [口寺]. Đây có lẽ là một bản in muộn vào cuối đời Tự Đức hay sau Tự Đức.

14 Leave a comment on paragraph 14 0 5. Bản VHV. 2330 – 2333: Bản này thiếu toàn bộ Quyển thủNgoại kỷ Q.1 – 5, chỉ còn 7 quyển đầu của Bản kỷ sắp xếp như sau:

16 Leave a comment on paragraph 16 0 Đặc điểm đáng lưu ý của bản này là giấy cũ, đã hơi ngả màu vàng ố, nhưng chất lượng tốt, chữ khắc in đẹp, rõ và hoàn toàn không kiêng húy các vua nhà Nguyễn như bản Chính Hòa.

17 Leave a comment on paragraph 17 0 6. Bản VHV. 2334 – 2336: Tuy đóng thành tập riêng và mang ký hiệu khác, nhưng rõ ràng bản này cùng thuộc một mộc bản với bản VHV. 2330 – 2333 và là kế tiếp bản ấy.

19 Leave a comment on paragraph 19 0 Bản này cùng một loại giấy, một kiểu chữ và đều không kiêng húy nhà Nguyễn như bản trên.

20 Leave a comment on paragraph 20 0 Kết hợp bản số 5 và 6, chúng ta có một bản VHV. 2330 – 2336 gồm Bản kỷ Q.1 – 7, Q.10 – 11, Q.14 – 18, thiếu Quyển thủ, toàn bộ Ngoại kỷBản kỷ Q.8 – 9, Q.12 – 13, Q.16 – 19 (thiếu 8 quyển).

21 Leave a comment on paragraph 21 0 Thư viện Viện Sử học có một bản in Đại Việt sử ký toàn thư mang ký hiệu HV.118. Đây là một bản in đầy đủ gần giống bản A.3 của Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

22 Leave a comment on paragraph 22 0 Thư viện Viện Khảo cổ học của Sài Gòn trước đây, nay là Thư viện Khoa học xã hội của thành phố Hồ Chí Minh, lưu giữ một bản in Đại Việt sử ký toàn thư, hiệu VS.4. Bộ sách này đóng thành 7 tập, gồm đủ Quyển thủ và 24 quyển. Ngoài bìa ghi rõ “Quốc tử giám tàng bản”. Trừ hai quyển Bản kỷ Q.16, 17 kiêng húy nhà Nguyễn, giấy tương đối mới và chữ in không được rõ, còn những quyển khác đều không kiêng hủy như bản Chính Hòa. Theo sự khảo cứu của Võ Long Tê thì 2 quyển Bản kỷ Q.16, 17 do Viện Khảo cổ học Sài gòn mới bổ sung về sau, còn bộ sách vốn thuộc thư viện riêng của Phạm Quỳnh (bìa còn mang ký hiệu P. Q. N°48-1), sau năm 1945 nhượng cho Viện Văn hóa Trung phần ở Huế (nên có dấu của cơ quan này), rồi năm 1956 mới chuyển sang Viện Khảo cổ học ở Sài Gòn (có thêm dấu của cơ quan này)7. So sánh đối chiếu thì dễ nhận thấy bản VS.4 cùng thuộc một hệ thống mộc bản với bản VHV.2330 – 2336.

23 Leave a comment on paragraph 23 0 Như vậy là trong nước hiện nay có 8 ký hiệu sách Đại Việt sử ký toàn thư có thể quy vào 7 văn bản. Tình hình tổng quát của 7 văn bản đó đối chiếu với bản Chính Hòa như sau (có thì đánh dấu X, không thì đánh dấu O):

Bản
Chính Hòa
VHV.
2330-2336
VS.4A.3VHV. 179A. 2694HV. 118VHV. 1499
Quyển thủ
Tựa…
Tổng luận
OXXXOXO
Ngoại kỷ
Q.1OXXXOXX
Q.2OXXXOXX
Q.3OXXXOXX
Q.4OXXXOXX
Q.5OXXXOXX
Bản kỷ
Q.1XXXOXXO
Q.2XXXOXXO
Q.3XXXthiếu 30 tờXXO
Q.4XXXXXXX
Q.5XXXviết tay 4 tờXXX
Q.6XXXXXXX
Q.7XXXXXXX
Q.8OXXXXXX
Q.9OXXXXXX
Q.10XXXXXXX
Q.11XXXXXXX
Q.12OXXXXXX
Q.13OXXXXXX
Q.14XXXthiếu 1 tờOXX
Q.15XX
bổ sung
XXOXX
Q.16OX
bổ sung
XXOXX
Q.17OXXXOXX
Q.18OXXXXXX
Q.19OXXXXXX

24 Leave a comment on paragraph 24 0 Về mặt văn bản, 7 bản in trên có thể phân biệt làm hai loại:

25 Leave a comment on paragraph 25 0 – Loại không kiêng húy gồm 2 bản: VHV.2330 – 2336 và VS.4.

26 Leave a comment on paragraph 26 0 – Loại có kiêng húy gồm 5 bản: A.3, VHV.179, A2694, HV.118 và VHV.1499.

27 Leave a comment on paragraph 27 0 Loại thứ nhất: Hai bản VHV.2330 – 2336 và VS.4 cùng thuộc một hệ thống mộc bản, có những đặc điểm chung sau đây :

  • 28 Leave a comment on paragraph 28 0
  • Bìa ghi rõ “Quốc tử giám tàng bản”.
  • Hoàn toàn không kiêng húy các vua đời Lê cũng như đời Nguyễn.
  • Chữ khắc in đẹp, nét hơi mập.

29 Leave a comment on paragraph 29 0 Khi chưa phát hiện ra bản Chính Hòa thì rất dễ đoán định đây là bản khắc đời Chính Hòa và thực tế cũng đã có người kết luận như vậy. Nhưng sau khi đã có bản Chính Hòa để đối chiếu lại cũng dễ nhận thấy hai bản này thuộc một hệ mộc bản khác hệ mộc bản khắc đời Chính Hòa. Sự phân biệt thể hiện trên nhiều mặt:

30 Leave a comment on paragraph 30 0 – Mộc bản đời Chính Hòa thuộc loại “Nội các quan bản”, còn hai bản này thuộc loại “Quốc tử giám tàng bản”.

31 Leave a comment on paragraph 31 0 – Chữ khắc in rất giống nhau, nhưng xem xét đối chiếu kỹ thì thấy không phải cùng một mộc bản. Có lẽ người ta đã dùng một bản in Chính Hòa còn lại để áp vào gỗ khi khắc lại mộc bản này nên nét chữ, khoảng cách giữa các dòng, các chữ rất giống nhau. Nhưng đối chiếu từng chi tiết nhỏ của mỗi chữ thì có thể phát hiện ra sự khác nhau của hai mộc bản.

32 Leave a comment on paragraph 32 0 – Một số chữ đồng âm bị khắc nhầm. Ví dụ :

  • 33 Leave a comment on paragraph 33 0
  • NK5, 21b: chữ “đệ”, bản Chính Hòa 第, bản Quốc tử giám 弟
  • NK5, 22a: chữ “dĩ”, bản Chính Hòa 已, bản Quốc tử giám 以
  • NK5, 1b: chữ “tương”, bản Chính Hòa 相, bản Quốc tử giám 將

34 Leave a comment on paragraph 34 0 – Một số chữ in nhầm vì tự dạng gần giống nhau hoặc sót chữ, hoặc sai nét. Ví dụ:

  • 35 Leave a comment on paragraph 35 0
  • NK4, 9b: bản Chính Hòa chữ “nhị” 二 bản Quốc tử giám chữ “nhất” 一 (thiếu một nét).
  • NK4, 23a: bản Chính Hòa “Lục thập nhị niên” 六十二年 bản Quốc tử giám : “lục nhị niên” 六二年 (thiếu 1 chữ).
  • BK3, 23a: bản Chính Hòa “ẩm” 飲, bản Quốc tử giám “khâm” 欽 (tự dạng gần giống nhau).

36 Leave a comment on paragraph 36 0 – Đôi chữ, bản Quốc tử giám bỏ sót một vài chữ quan trọng ảnh hưởng đến nội dung. Ví dụ: trong Quyển thủ, “Đại Việt sử ký toàn thư tự” bị bỏ sót mất chữ “tự”, “Tiến Đại Việt sử ký toàn thư biểu” bị bỏ sót mất chữ “biểu”.

37 Leave a comment on paragraph 37 0 – Một điểm quan trọng làm thay đổi bố cục của bản Chính Hòa, là tên quyển 10 phần Bản kỷ trong bản Chính Hòa là “Đại Việt sử ký bản kỷ toàn thư”, thì sang bản Quốc tử giám bị chuyển thành “Đại Việt sử ký bản kỷ thực lục”.

38 Leave a comment on paragraph 38 0 Đi sâu vào các chi tiết của từng nét chữ và các dị văn, có thể kết luận chắc chắn: bản Quốc tử giám thuộc một hệ mộc bản khác bản Chính Hòa.

39 Leave a comment on paragraph 39 0 Vậy bản Quốc tử giám không kiêng húy này được khắc in vào lúc nào, trong hoàn cảnh nào?

40 Leave a comment on paragraph 40 0 Sử biên niên cho biết, sau năm Chính Hòa thứ 18 (1697) trở đi, chính quyền Lê – Trịnh không khắc in lại Quốc sử. Sau đó, Quốc sử quán triều Tây Sơn đã biên soạn một bộ Quốc sử mới và năm 1800 đã khắc in phần đầu với tên sách Đại Việt sử ký tiền biên thì cũng không có lý do gì khắc in lại bộ Quốc sử của triều Lê.

41 Leave a comment on paragraph 41 0 Vậy bản Quốc tử giám chỉ có thể khắc in vào đầu triều Nguyễn, nhưng ở đâu và vào quãng thời gian nào?

42 Leave a comment on paragraph 42 0 Đại Nam thực lục cung cấp một dữ kiện có thể soi sáng vấn đề đặt ra:

43 Leave a comment on paragraph 43 0 Năm Minh Mạng thứ 8 (1827): “Sai quan Bắc thành kiểm xét những bản in nguyên trữ ở Văn Miếu về các sách Ngũ kinh, Tứ thư đại toàn, Vũ kinh trực giải (bản in của Quốc tử giám nhà Lê) cùng chính sử trước sau (bản in riêng của hậu quân tham mưu Nguyễn Bá Khoa) và Tứ trường văn thể (bản in riêng của trấn thủ Hải Dương Trần Công Hiến) gửi về Kinh, để ở Quốc tử giám”8.

44 Leave a comment on paragraph 44 0 Đại Nam hội điển sự lệ (Q.261) cũng chép sự việc trên và cho biết thêm những sự việc có liên quan tiếp theo9.

45 Leave a comment on paragraph 45 0 Năm Minh mạng thứ 9 (1828), in chính sử xưa nay của Bắc Thành 30 bộ để ban cấp.

46 Leave a comment on paragraph 46 0 Năm Minh Mạng thứ 10 (1829), sai đem chính sử đã in năm trước ban cấp cho Quốc tử giám 2 bộ, Quốc tử giám học chính 1 bộ, các giám sinh ở phủ tôn nhân 2 bộ, tọa giám giám sinh 3 bộ và in thêm 30 bộ nữa để đủ ban cấp.

47 Leave a comment on paragraph 47 0 Năm Minh Mạng thứ 11 (1830), sai Quốc tử giám tế tửu và tư nghiệp cho sinh viên soát kỹ lại những bản in sách của nhà nước (quan thư) chứa ở Quốc tử giám, những chữ bị sút, mòn thì viết lại và đưa sang Vũ khố cho thợ khắc lại11.

48 Leave a comment on paragraph 48 0 Trước đời Nguyễn, chỉ có hai bộ quốc sử đã được khắc in là bộ Đại Việt sử ký toàn thư của triều Lê và bộ Đại Việt sử ký tiền biên của triều Tây Sơn. “Chính sử trước sau” (tiền hậu chính sử) mà Nguyễn Bá Khoa khắc in lại không thể là bộ chính sử của triều Tây Sơn, nên rất có thể là bộ Đại Việt sử ký toàn thư. Trên cơ sở đó, có thể nêu lên một giả thuyết:

49 Leave a comment on paragraph 49 0 Vào đầu đời Nguyễn, khoảng sau năm 1802 và trước năm 1807, Nguyễn Bá Khoa trong thời gian giữ chức Hậu quân tham mưu ở Bắc Thành đã đứng ra tổ chức khắc in lại bộ Đại Việt sử ký toàn thư. Lúc bấy giờ bộ sử đời Tây Sơn thì do lý do chính trị, không ai dám dùng, trong lúc mộc bản Chính Hòa của bộ sử đời Lê thì từ năm 1800 đã bị thất lạc hết. Việc làm của Nguyễn Bá Khoa có thể xuất phát từ sự quan tâm của ông đối với Quốc sử và nhất là từ nhu cầu học hỏi Quốc sử của đông đảo sĩ tử và trí thức Bắc Hà nói chung và đất Thăng Long văn vật nói riêng. Đó có thể cũng là một biện pháp có ý nghĩa chính trị để tranh thủ tầng lớp sĩ phu Bắc Hà vốn còn mang nặng ảnh hưởng của triều Lê.

50 Leave a comment on paragraph 50 0 Mộc bản Chính Hòa không còn nữa, nhưng chắc chắn lúc đó, những bản in Chính Hòa vẫn còn. Nguyễn Bá Khoa đã dùng một bản in Chính Hòa nào đó để thuê thợ Hồng Lục, Liễu Chàng khắc in lại gần như nguyên bản. Những năm đầu triều Nguyễn, việc kiêng húy chưa quy định chặt chẽ, nên khi khắc in lại, người ta theo đúng văn bản Chính Hòa mà chưa thay đổi (bỏ nét hay bỏ bộ) những chữ kiêng húy.

51 Leave a comment on paragraph 51 0 Năm 1827, theo lệnh Minh Mạng, mộc bản Đại Việt sử ký toàn thư của Nguyễn Bá Khoa để ở Bắc Thành phải chuyển vào Kinh, tàng trữ ở Quốc tử giám Huế. Từ đây, các bản in Đại Việt sử ký toàn thư được chính thức mang dấu hiệu “Quốc tử giám tàng bản”. Đợt in thứ nhất năm 1828 chỉ có 30 bộ. Đợt thứ hai năm 1829 in thêm 30 bộ. Năm 1830, sinh viên Quốc tử giám được lệnh soát lại các mộc bản tàng lưu ở Quốc tử giám, trong đó có thể có mộc bản Đại Việt sử ký toàn thư để viết và khắc lại những ván in sứt mòn. Qua hai bản in còn lại đến nay, bản VHV.2330 – 2336 và VS.4, thì số tờ khắc in lại không nhiều, nhưng rất dễ phân biệt với bản Chính Hòa về nét chữ thanh hơn, xấu hơn, có tờ số chữ mỗi dòng cũng khác nhau (ví dụ : Quyển thủ, bài Tổng luận, 21a-b).

52 Leave a comment on paragraph 52 0 Với giả thuyết trên, bản Quốc tử giám tàng bản không kiêng húy được khắc in vào những năm đầu triều Nguyễn, vốn là mộc bản riêng của Nguyễn Bá Khoa ở Bắc Thành rồi được chuyển vào Huế và trở thành mộc bản của Quốc tử giám nhà Nguyễn.

53 Leave a comment on paragraph 53 0 Loại thứ hai: Những bản in có kiêng húy các vua nhà Nguyễn dĩ nhiên được in dưới triều Nguyễn. Nhưng trong số 5 bản in hiện còn, mối quan hệ thế thứ như thế nào và quan hệ với bản không kiêng húy VHV.2330 – 2336 và VS.4 ra sao?

54 Leave a comment on paragraph 54 0 Sau khi so sánh, đối chiếu 5 văn bản, chúng tôi thấy bản A.3 và VHV.179 gần như cùng một mộc bản. Cả hai bản đã sử dụng nhiều ván in cũ của bản VHV.2330-2336 và VS.4, những chữ kiêng húy thì đục bớt nét và khắc thêm một số ván in mới thay cho những ván đã mất hoặc hư hỏng. Hai bản đều kiêng húy các vua nhà Nguyễn từ Gia Long đến Tự Đức.

55 Leave a comment on paragraph 55 0 Nếu bản Chính Hòa thuộc thế hệ thứ nhất với mộc bản khắc năm 1697 (A), bản Quốc tử giám không kiêng húy thuộc thế hệ thứ hai với mộc bản khắc vào đầu đời Nguyễn (B), thì bản này thuộc thế hệ thứ ba (C) dựa trên mộc bản B, đục bỏ bớt nét những chữ kiêng húy và khắc bổ sung một số ván bị mất hay hư hỏng. Bản C là bản Quốc tử giám nhà Nguyễn khoảng đầu đời Tự Đức (1848 – 1883).

56 Leave a comment on paragraph 56 0 Hai bản A.2694 và HV.118 thuộc thế hệ thứ tư (D). Mộc bản B đến đây bị mất, mòn và hư hỏng nhiều hơn, phải thay thế bằng những ván in mới, nên tỷ lệ số ván mới tăng lên, ví dụ BK5, đến khoảng 20%. Những ván cũ còn sử dụng thì để lại dấu nứt và mòn rõ hơn. Ví dụ:

57 Leave a comment on paragraph 57 0 – BK6, 27a: chữ “dụng kê” 用計 ở bản A.2694 bị sứt nét (ở chữ dụng) đến bản HV.118 thì mờ quá nên phải tô mực cho đậm hơn.

58 Leave a comment on paragraph 58 0 – BK8, 15a: có một vết trắng cắt ngang bản in (ván in bị nứt hoặc xước?), ở bản C chỉ nhỏ chừng 0,5mm, đến bản D to gấp đôi, 1mm (cả hai bản A.2694 và HV.118)…

59 Leave a comment on paragraph 59 0 Bản D cũng kiêng húy các vua triều Nguyễn cho đến Tự Đức. Đây là bản Quốc tử giám nhà Nguyễn in vào khoảng cuối đời Tự Đức.

60 Leave a comment on paragraph 60 0 Bản VHV.1499 thuộc thế hệ thứ năm (E). Bản này dùng ván in của bản D và bổ sung thêm một số ván in mới. Do quá trình bổ sung qua nhiều thế hệ, nên đến bản E thì ván in hầu như thay mới đại bộ phận so với bản B và C. Bản E chữ in xấu và có nhiều sai sót nhất. Việc kiêng húy các vua Nguyễn không được chặt chẽ, nghiêm chỉnh như trước. Bản E có niên đại cuối Tự Đức hay sau Tự Đức.

61 Leave a comment on paragraph 61 0 Tóm lại, những bản B, C, D, E khắc in đời Nguyễn qua nhiều đợt khắc in từ đầu đời Nguyễn đến cuối Tự Đức và có thể sau đó. Chỉ có đợt đầu, do ván in A không còn nữa, bản B được khắc in lại toàn bộ. Còn các đợt sau, chỉ khắc bỏ sung và thay thế những ván cũ bị mất mát hay hư hỏng.

62 Leave a comment on paragraph 62 0 Qua kết quả phân tích và giám định văn bản như trên, có thể lập sơ đồ thế hệ văn bản như sau:

63 Leave a comment on paragraph 63 0

64 Leave a comment on paragraph 64 0 Phải nói rằng từ bản Chính Hòa đến các bản đời Nguyễn, văn bản Đại Việt sử ký toàn thư bị chuyển dịch không đáng kể, chỉ thuộc về chi tiết. Tuy nhiên cũng có những chi tiết ảnh hưởng đến nội dung văn bản và giá trị sử liệu mà không có bản Chính Hòa thì rất khó phát hiện và giám định. Một ví dụ : BK2, 20b, bản Chính Hòa chép “chiếu phát tiền nhấm công tạo tự quán vu hương ấp phàm bách ngũ thập sở” nghĩa là “xuống chiếu phát tiền thuê thợ làm chùa quán ở các hương ấp, tất cả 150 sở”. Nhưng các bản đời Nguyễn đều in nhầm chữ “phàm” 凣 thành chữ “cửu” 九 (hai chữ tự dạng rất giống nhau) và do đó câu văn có nghĩa là: “xuống chiếu phát tiền thuê thợ làm chùa quán ở các hương ấp 950 sở”10. Từ 150 sở thành 950 sở, giá trị sử liệu bị thay đổi hẳn. Tất nhiên, bản Chính Hòa về mặt văn bản, tự nó cũng không tránh khỏi những sai sót khi viết chữ và khi khắc in. Nhưng đó vẫn là những sai sót của nguyên bản, khác hẳn những sai sót do chuyển dịch văn bản của các dị bản gây ra.

65 Leave a comment on paragraph 65 0 Bản Chính Hòa được in từ hệ mộc bản khắc năm Chính Hòa 18, có giá trị đặc biệt về mặt lịch sử và văn bản mà không một bản nào khác có thể thay thế được, khi nghiên cứu và sử dụng bộ Đại Việt sử ký toàn thư. Vì vậy, việc công bố văn bản Chính Hòa và bản dịch tiếng Việt dựa theo văn bản đó là rất cần thiết và có ý nghĩa khoa học trên nhiều lĩnh vực.


66 Leave a comment on paragraph 66 0 ⇡ 1 Trần Văn Giáp, Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, đd, tr.68.

67 Leave a comment on paragraph 67 0 ⇡ 2 Trần Kinh Hòa, Đại Việt sử ký toàn thư chi soạn lu dữ truyền bản, đd.

68 Leave a comment on paragraph 68 0 ⇡ 3 Trần Văn Giáp, Tìm hiểu kho sách Hán – Nôm, đd, tr.78 – 86.

69 Leave a comment on paragraph 69 0 ⇡ 4 Trần Kinh Hòa, Đại Việt sử ký toàn thư chi soạn tu dữ truyền bản, đd.

70 Leave a comment on paragraph 70 0 ⇡ 5 E. Gaspardone, Bibliographie annamite, đd, tr.65.

71 Leave a comment on paragraph 71 0 ⇡ 6 Cùng tham gia nghiên cứu các bản in Đại Việt sử ký toàn thư có các cán bộ nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Hán – Nôm: Ngô Đức Thọ, Nguyễn Tá Nhí, Mai Xuân Hải, Hoàng Văn Lâu. Tôi xin chân thành cảm ơn sự đóng góp của các bạn.

72 Leave a comment on paragraph 72 0 ⇡ 7 Đại Việt sử ký toàn thư, Sài Gòn 1974, t.1, tr.25.

73 Leave a comment on paragraph 73 0 ⇡ 8 Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chÍnh biên, đệ nhị kỷ, t.8, Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội, 1964, tr. 175 – 176.

74 Leave a comment on paragraph 74 0 ⇡ 9 Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Q.261, Quan thư thư bản 2b – 3b.

75 Leave a comment on paragraph 75 0 ⇡ 10 Sự việc này cũng được chép trong Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ, đd, t.10, tr.39.

76 Leave a comment on paragraph 76 0 ⇡ 11 Câu “phàm bách ngũ thập sở” của Toàn thư không được chuẩn xác, nhưng Đại Việt sử lược (q.3,5b) chép rõ “phàm nhất bách ngũ thập xứ”, chứ không phải cửu bách ngũ thập sở”.

Page 19

Source: https://www.dvsktt.com/dai-viet-su-ky-toan-thu/phien-ban-alpha-tieng-viet-1993/dai-viet-su-ky-toan-thu-tac-gia-van-ban-tac-pham-phan-huy-le/ii-van-ban-ban-chinh-hoa-va-cac-ban-sau-do/cac-ban-in-sau-chinh-hoa/