III. Nội dung tác phẩm
¶ 1 Leave a comment on paragraph 1 0 Đại Việt sử ký toàn thư là một bộ sử biên niên chép lịch sử nước ta từ đời Hồng Bàng trong truyền thuyết cho đến năm 1675. Tác phẩm được biên soạn từ cuối thế kỷ XIII đến cuối thế kỷ XVII, qua sự tham gia đóng góp của Quốc sử viện nhiều đời từ đời Trần đến đời Lê Trung hưng và nhiều nhà sử học nổi tiếng của nhiều thế hệ từ Lê Văn Hưu đến Lê Hy. Đó là một bộ Quốc sử lớn, đầu tiên của nước ta còn lưu truyền đến nay, tập đại thành trong đó nhiều bộ sử của từng đời như Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên, Đại Việt thông giám thông khảo của Vũ Quỳnh, Đại Việt sử ký Bản kỷ thực lục và Bản kỷ tục biên của Phạm Công Trứ, Đại Việt sử ký Bản kỷ tục biên của Lê Hy. Có thể coi Đại Việt sử ký toàn thư như một “bộ sử mẹ” đã thâu tóm và hội nhập vào mình nhiều “bộ sử con”, đúc kết và phản ánh những thành tựu của nền sử học cổ truyền Việt Nam trong thời kỳ hình thành và phát triển đầu tiên của nó. Đấy là vị trí và giá trị lịch sử của bộ Đại Việt sử ký toàn thư trong lịch sử sử học Việt Nam nói riêng và lịch sử văn hóa Việt Nam nói chung.
¶ 2 Leave a comment on paragraph 2 0 Về mặt sử liệu, Đại Việt sử ký toàn thư đã thu thập và trình bày một cách có hệ thống, theo lối biên niên, những tư liệu về lịch sử Việt Nam trong một thời kỳ phát triển dài từ buổi đầu dựng nước cho đến thế kỷ XVII. Nó cung cấp một nguồn tư liệu gốc quan trọng không riêng cho sử học, mà cho hầu hết các ngành khoa học xã hội, hay nói rộng ra, cho tất cả các ngành khoa học nào nghiên cứu về lịch sử, đất nước, xã hội, văn hóa, con người Việt Nam thời cổ đại và trung đại. Dĩ nhiên là còn nhiều nguồn sử liệu khác nữa, nhưng trong loại sử liệu viết thì Đại Việt sử ký toàn thư giữ vai trò một hệ thống sử liệu gốc cơ bản nhất và xưa nhất của lịch sử dân tộc từ nguồn gốc cho đến thế kỷ XVII. Sau Đại Việt sử ký toàn thư, còn có những bộ quốc sử như Đại Việt sử ký tiền biên đời Tây Sơn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục đời Nguyễn và nhiều bộ sử của các nhà sử học thời cuối Lê đầu Nguyễn, viết về lịch sử dân tộc. Các tác phẩm này bổ sung, đính chính một số sử liệu, nhưng về cơ bản vẫn phải dựa trên cơ sở sử liệu của Đại Việt sử ký toàn thư.
¶ 3 Leave a comment on paragraph 3 0 Trong bài Biểu dâng sách, Ngô Sĩ Liên viết:
¶ 4 Leave a comment on paragraph 4 0 “Theo Mã sử biên niên nhưng thẹn vì chắp vá còn thô, học Lân kinh so việc đâu dám mong cẩn nghiêm sánh kịp”.
¶ 5 Leave a comment on paragraph 5 0 (Quyển thủ, Biểu dâng sách của Ngô Sĩ Liên, 2b – 3a)
¶ 6 Leave a comment on paragraph 6 0 Mã sử là Sử ký của Tư Mã Thiên. Lân kinh là kinh Xuân thu của Khổng Tử. Các soạn giả Đại Việt sử ký toàn thư chép sử theo lối biên niên của Xuân thu và Sử ký, ghi chép các diễn biến lịch sử theo trình tự thời gian của năm, tháng, ngày. So với lối Cương mục của Chu Hy đời Tống (mỗi sự việc đều chép thành “cương” tóm lược những nét lớn, rồi dưới mới ghi chi tiết gọi là “mục”) mà sau này Quốc sử quán triều Nguyễn vận dụng viết bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, thì lối viết sử biên niên này chưa bị gò bó quá chặt chẽ. Do đó, Đại Việt sử ký toàn thư còn giữ được nhiều chi tiết của sự kiện lịch sử mà các bộ quốc sử về sau lược bỏ đi.
¶ 7 Leave a comment on paragraph 7 0 Nhưng ngay về mặt sử liệu, Đại Việt sử ký toàn thư cũng có những hàn chế của nó do quan điểm sử học đương thời và khả năng của tác giả quy định.
¶ 8 Leave a comment on paragraph 8 0 Mục đích viết sử theo Ngô Sĩ Liên là:
¶ 9 Leave a comment on paragraph 9 0 “Thần trộm nghĩ: ngày xưa sách làm tin là điển lớn của nước để ghi chép quốc thống lúc lìa lúc hợp, để tỏ rõ sự trị hóa khi thịnh khi suy. Ấy là muốn treo gương răn cho đời sau, há chỉ chép cơ vi về dĩ vãng”.
¶ 10 Leave a comment on paragraph 10 0 (Quyển thủ, Biểu dâng sách của Ngô Sĩ Liên, 1b)
¶ 11 Leave a comment on paragraph 11 0 Do sự chi phối của quan điểm đó nên sử liệu chứa đựng trong Đại Việt sử ký toàn thư cũng như các bộ Quốc sử thời phong kiến nói chung, nặng về đời sống cung đình, hành vi của vua quan, hoạt động chính trị của vương triều. Còn lịch sử sản xuất cùng các mối quan hệ kinh tế – xã hội và đời sống mọi mặt của quần chúng nhân dân thì chỉ được phản ánh phần nào và thường là phản ánh một cách gián tiếp qua các chủ trương, chính sách và hoạt động của vương triều. Đó là hạn chế khách quan của cả nền sử học chính thống đương thời.
¶ 12 Leave a comment on paragraph 12 0 Nhận xét về việc biên soạn lịch sử thời Trần, Lê, Lê Quý Đôn khen Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên chép sử “gọn gàng, đúng đắn, có thể dùng được”, khen Ngô Sĩ Liên “kể việc cũng kỹ và có mối giường”, vừa khen vừa chê Vũ Quỳnh “sắc lệnh và điều lệ thì hơi đủ, còn công việc bổ dụng và sớ tấu của các quan thì còn sót nhiều”, đặc biệt chê các sử thần thời Lê Trung hưng:
¶ 14 Leave a comment on paragraph 14 0 Phần cuối Bản kỷ thực lục và phần Bản kỷ tục biên, chép lịch sử thế kỷ XVI – XVII quả thật quá sơ lược, nhất là về triều Mạc, tuy rằng tác giả biên soạn những phần đó (Phạm Công Trứ, Lê Hy) lại sống ngay trong giai đoạn lịch sử này. Trước đó, giai đoạn cuối đời Lý, đời Lý Cao Tông (1176 – 1210) và Lý Huệ Tông (1211 – 1224), Đại Việt sử ký toàn thư cũng chép không chi tiết bằng Đại Việt sử lược dù bộ sử này mang tính chất một bộ sử tóm tắt chỉ có 3 quyển. Đây đó trong Đại Việt sử ký toàn thư cũng có những nhầm lẫn về niên lịch, nhất là kỷ triều Lý, những sai sót khi tham khảo và trích dẫn thư tịch Trung Quốc (ví dụ: lời của Trương Trọng trả lời Tấn Minh Đế ở NK3, 9; lời sớ của Tiết Tổng ở NK4, 3; thư của Đào Hoàng ở NK4, 8b…)… Đấy là những hạn chế chủ quan của người biên soạn và một số chi tiết có thể do “tam sao thất bản” trong quá trình lưu chuyển văn bản.
¶ 15 Leave a comment on paragraph 15 0 Nhưng những hạn chế khách quan và chủ quan trên vẫn không làm giảm giá trị sử liệu của Đại Việt sử ký toàn thư trong toàn bộ hệ thống của nó!
¶ 16 Leave a comment on paragraph 16 0 Về mặt nội dung tư tưởng, Đại Việt sử ký toàn thư là một bộ sử chính thống thời phong kiến, nên dĩ nhiên nó mang đậm dấu ấn thời đại.
¶ 17 Leave a comment on paragraph 17 0 Thế kỷ XIII – XVII nằm trong thời kỳ xác lập và phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam. Đời Trần, Phật giáo và Đạo giáo còn chi phối, nhưng Nho giáo cũng đã phát triển mạnh mẽ để từ đời Lê trở thành hệ tư tưởng thống trị của giai cấp phong kiến. Quá trình biên soạn bộ Đại Việt sử ký toàn thư, từ Lê Văn Hưu đến Lê Hy, diễn ra dưới ảnh hưởng của những chuyển biến tư tưởng lúc bấy giờ, mà công việc chỉnh lý và hoàn thành cuối cùng phản ánh sự chi phối của hệ tư tưởng Nho giáo.
¶ 18 Leave a comment on paragraph 18 0 Phạm Công Trứ xác định rất rõ quan điểm viết sử của ông:
¶ 19 Leave a comment on paragraph 19 0 “Vì sao mà làm quốc sử? Vì sử chủ yếu là để ghi chép sự việc. Có chính trị của một đời tất phải có sử của một đời. Mà ngọn bút chép sử giữ nghị luận rất nghiêm, ca ngợi đời thịnh trị thì sáng tỏ ngang với mặt trời mặt trăng, lên án kẻ loạn tặc thì gay gắt như sương thu lạnh buốt. Người thiện biết có thể bắt chước, người ác biết có thể tự răn, quan hệ đến việc chính trị không phải là không nhiều. Cho nên làm sử là cốt để cho được như thế”.
¶ 20 Leave a comment on paragraph 20 0 (Quyển thủ, Tựa của Phạm Công Trứ, 1a)
¶ 21 Leave a comment on paragraph 21 0 Các tác giả Đại Việt sử ký toàn thư đã đứng trên quan điểm chính thống, đạo trung quân cùng với những nguyên tắc của tam cương ngũ thường, tam tòng tứ đức để viết sử, để khen chê, để đánh giá và bình luận các nhân vật lịch sử. Sử bút đó, sau những lời “khảo đính quốc sử” của Ngô Sĩ Liên, Vũ Quỳnh, Phạm Công Trứ, Lê Hy, đã được quán triệt sâu sắc vào toàn bộ tác phẩm, từ bố cục đến lời văn và trình bày, cả nội dung và hình thức. Điều đó thể hiện rõ trong phàm lệ và toát lên qua từng trang sách của bộ Quốc sử.
¶ 22 Leave a comment on paragraph 22 0 Tính giai cấp của các sử thần phong kiến hiện lên rõ rệt nhất qua ngòi bút của tác giả khi viết về những cuộc khởi nghĩa nông dân, những phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân trong nước cũng như khi viết về những cuộc xung đột với những nước láng giềng phía Tây, phía Nam.
¶ 23 Leave a comment on paragraph 23 0 Quan điểm Nho giáo biểu thị một cách tập trung qua sự ghi chép và đánh giá của tác giả đối với một số vương triều và nhân vật lịch sử.
¶ 24 Leave a comment on paragraph 24 0 Triều Hồ và triều Mạc không được coi là triều đại chính thống nên không được chép thành “kỷ nhà Hồ” và “kỷ nhà Mạc” như các vương triều khác, mà chỉ chép “phụ” vào các kỷ khác và chép theo họ tên chứ không chép theo miếu hiệu. Phàm lệ tục biên giải thích:
¶ 25 Leave a comment on paragraph 25 0 “Còn họ Mạc tiếm ngôi thì chia làm hai dòng mà chua ở dưới năm thứ tự, thế là để tôn chính thống mà nén tiếm nghịch”.
¶ 26 Leave a comment on paragraph 26 0 Lê Hoàn (Lê Đại Hành) là người sáng lập ra nhà Tiền Lê (980 – 1009) và là một anh hùng dân tộc có công lớn trong việc tổ chức và lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ nhất. Lê Văn Hưu viết xong Đại Việt sử ký năm 1272 trong khí thế sôi sục chống ngoại xâm của cả dân tộc, đã đánh giá cao công lao và sự nghiệp của Lê Đại Hành:
¶ 27 Leave a comment on paragraph 27 0 “Lê Đại Hành giết Đinh Điền, bắt Nguyễn Bặc, trói Quân Biện, Phụng Huân dễ như lùa trẻ con, như sai nô lệ, chưa đầy vài năm mà bờ cõi định yên, công đánh dẹp chiến thắng dẫu là các vua Hán, Đường cũng không hơn được”.
¶ 28 Leave a comment on paragraph 28 0 (BK1, 14)
¶ 29 Leave a comment on paragraph 29 0 Nhưng đến thế kỷ XV, khi Nho giáo đã trở thành quốc giáo, Ngô Sĩ Liên đã dùng quan điểm Nho giáo để phản bác ý kiến của Lê Văn Hưu và phê phán gay gắt Lê Đại Hành về “tội” không hết lòng phò tá con vua Đinh, lập Dương Vân Nga (trước là vợ Đinh Tiên Hoàng) làm hoàng hậu… Ngô Sĩ Liên viết:
¶ 30 Leave a comment on paragraph 30 0 “Khi Đại Hành giữ chức nhiếp chính, Vệ Vương tuy là nhỏ nhưng vẫn là vua. Thế mà Đại Hành tự xưng là Phó Vương, rắp tâm làm điều bất lợi…”.
¶ 31 Leave a comment on paragraph 31 0 (BK1, 15a)
¶ 32 Leave a comment on paragraph 32 0 … và:
¶ 33 Leave a comment on paragraph 33 0 “Đạo vợ chồng là đầu của nhân luân, mối của vương hóa… Đại Hành thông dâm với vợ vua rồi nghiễm nhiên lập làm hoàng hậu, mất cả lòng biết hổ thẹn vậy”.
¶ 34 Leave a comment on paragraph 34 0 (BK1, 15b)
¶ 35 Leave a comment on paragraph 35 0 Trong lúc đó, chính Đại Việt sử ký toàn thư còn ghi lại một hiện tượng đáng lưu ý ở Hoa Lư:
¶ 36 Leave a comment on paragraph 36 0 “… về sau tục dân lập đền thờ, tô tượng hai vua Tiên Hoàng và Đại Hành và tượng Dương hậu cùng ngồi, hồi quốc sơ vẫn còn như thế”.
¶ 38 Leave a comment on paragraph 38 0 Thái độ của nhân dân ta lúc bấy giờ thật rõ ràng, công minh: tôn kính và biết ơn cả ba người vì Đinh Tiên Hoàng là một anh hùng thống nhất đất nước, Lê Đại Hành là một anh hùng chống ngoại xâm và Dương Vân Nga là một người phụ nữ yêu nước biết xử sự việc nội bộ cung đình một cách sáng suốt, đúng đắn, có lợi cho dân cho nước. Đó là “tục dân” phản ánh đạo lý truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta. Ảnh hưởng của Nho giáo đã làm cho Ngô Sĩ Liên và nhiều sử thần phong kiến xa rời đạo lý truyền thống đó, đi đến những lời buộc tội bất công và oan uổng cho Lê Hoàn và Dương Vân Nga cũng như một số nhân vật lịch sử khác.
¶ 39 Leave a comment on paragraph 39 0 Hệ tư tưởng Nho giáo còn có khi dẫn các tác giả Đại Việt sử ký toàn thư đến một số nhận thức sai lầm đối với lịch sử dân tộc.
¶ 40 Leave a comment on paragraph 40 0 Điều 9 Phàm lệ nêu lên một nguyên tắc đúng đắn, quán triệt tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc:
¶ 41 Leave a comment on paragraph 41 0 “Phàm người nước Việt ta căm giận người Bắc triều xâm lược tàn bạo, nhân lòng người căm ghét, đánh giết quận thú để tự lập thì đều chép là khởi binh, xưng quốc hiệu. Không may mà bại vong, thì cũng chép là khởi binh để tỏ khen ngợi”.
¶ 42 Leave a comment on paragraph 42 0 (Quyển thủ, Phàm lệ, 2b)
¶ 43 Leave a comment on paragraph 43 0 Nhưng đối với Sĩ Nhiếp thì nguyên tắc trên đã bị lu mờ trước ảnh hưởng nặng nề của Nho giáo. Sĩ Nhiếp là một viên quan đô hộ của nhà Hán đã cai trị lâu năm ở nước ta và đã truyền bá Nho giáo, lập trường dạy chữ Hán… vì vậy các môn đệ Nho giáo ở nước ta đã suy tôn Sĩ Nhiếp là Sĩ Vương, coi là “Nam giao học tổ” (ông tổ của nền học vấn phương Nam). Cũng trong tinh thần đó, Đại Việt sử ký toàn thư đã viết thành “kỷ Sĩ Vương” và cả Lê Văn Hưu lẫn Ngô Sĩ Liên đều hết lời ca ngợi!
¶ 44 Leave a comment on paragraph 44 0 Một sai lầm nghiêm trọng hơn là nhận thức về nhà Triệu, Đại Việt sử ký toàn thư đã dành cả quyển 2 phần Ngoại kỷ chép về “kỷ họ Triệu”, coi nhà Triệu như một vương triều chính thống của ta. Trong bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ, sai lầm trên có nhiều nguyên nhân phức tạp của nó.
¶ 45 Leave a comment on paragraph 45 0 Triệu Đà là người Hán (quê ở huyện Chân Định, tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc), làm quan lệnh huyện Long Xuyên quận Nam Hải thời nhà Tần. Nhân khi đế chế Tần sụp đổ, năm 207 tr.CN Triệu Đà đã chiếm cứ quận Nam Hải, Quế Lâm và Tượng (vùng Quảng Đông, Quảng Tây) lập thành một nước cát cứ ở phương Nam. Nước Nam Việt của Triệu Đà không phải là nước ta – lúc bấy giờ là nước Âu Lạc đời An Dương Vương. Hơn thế nữa, chính Triệu Đà là kẻ đã xâm lược và đô hộ nước Âu Lạc.
¶ 46 Leave a comment on paragraph 46 0 Sự thật lịch sử là như vậy. Nhưng Triệu Đà xây dựng lực lượng cát cứ, mưu đồ “tranh bá đồ vương” trên một địa bàn người Việt mà nhà Tần mới thôn tính; cư dân tuyệt đại đa số là người Việt. Trong hoàn cảnh đó, để có lực lượng chống Tần, chống Hán, thực hiện mộng bá vương của mình, Triệu Đà và các vua Triệu kế tục, đã thực hiện nhiều thủ đoạn mỵ dân nhằm tranh thủ các thủ lĩnh người Việt, tìm hậu thuẫn trong cư dân người Việt. Triệu Đà đặt tên nước là Nam Việt, coi như người phục hưng nước cũ của người Việt, tự xưng là “Man đại trưởng lão phu”, lấy vợ Việt, theo phong tục tập quán Việt (búi tó, ngồi xổm)… Những thủ đoạn cai trị đó, cùng với hành động chống Tần, chống Hán (tất nhiên là chỉ vì mục đích cát cứ) của nhà Triệu, đã làm cho nhiều nhà viết sử của ta thời phong kiến không nhận ra bộ mặt cát cứ, xâm lược của nhà Triệu và ngộ nhận coi nhà Triệu như một triều đại của ta. Đó là một sai lầm kéo dài mà các tác giả Đại Việt sử ký toàn thư đã đưa vào Quốc sử. Đến thế kỷ XVIII, nhà sử học Ngô Thì Sĩ đã kịch liệt phê phán quan điểm sai lầm ấy và chứng minh nhà Triệu hoàn toàn không phải là một triều đại của nước ta, hơn nữa là kẻ đã xâm lược nước ta. Ngô Thì Sĩ viết:
¶ 47 Leave a comment on paragraph 47 0 “Đến như việc tán tụng công lao của Triệu Đà đã xướng ra cơ nghiệp đế vương trước tiên, Lê Văn Hưu sáng lập ra sử chép như thế, Ngô Sĩ Liên cứ theo cách chép ấy không biết thay đổi, rồi đến bài Tổng luận của Lê Tung, thơ vịnh sử của Đặng Minh Khiêm thay nhau mà tán tụng, cho Triệu Đà là bậc đế của nước ta. Qua hàng ngàn năm mà không ai cải chính, vì thế tôi phải biện bạch kỹ càng”2.
¶ 48 Leave a comment on paragraph 48 0 Đại Việt sử ký tiền biên là bộ Quốc sử đời Tây Sơn đã chính thức chấp nhận quan điểm của Ngô Thì sĩ và phủ nhận, cải chính một sai lầm kéo dài trong sử sách.
¶ 49 Leave a comment on paragraph 49 0 Nhưng cần khẳng định và nhấn mạnh về mặt nội dung tư tưởng, bên cạnh một số hạn chế đã nêu ở trên, bộ Đại Việt sử ký toàn thư nổi bật lên một giá trị lớn lao. Đó là niềm tự hào dân tộc, là tinh thần yêu nước và ý thức trách nhiệm sâu sắc đối với độc lập chủ quyền đất nước của các tác giả bộ Quốc sử.
¶ 50 Leave a comment on paragraph 50 0 Với tinh thần và ý thức đó, Ngô Sĩ Liên đã đi đến những nhận định tổng quát rố tự hào đối với lịch sử dân tộc:
¶ 51 Leave a comment on paragraph 51 0 “Nước Đại Việt ở phía nam Ngũ Lĩnh rời đã phân chia giới hạn Nam – Bắc. Thủy tổ của ta là dòng dõi họ Thần Nong, thế là trời đã sinh ra chân chúa, có thể cùng với Bắc triều mỗi bên làm đế một phương”.
¶ 52 Leave a comment on paragraph 52 0 (Quyển thủ, Tựa của Ngô Sĩ Liên, 1a)
¶ 53 Leave a comment on paragraph 53 0 “Kể từ khi kế nối mở cõi nước Nam, quả thật đối ngang triều Bắc. Dòng mối ức vạn năm với trời không cùng, vua giỏi sáu bảy vị so xưa có sáng. Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau, mà hào kiệt đời nào cũng có”.
¶ 54 Leave a comment on paragraph 54 0 (Quyển thủ, Biểu dâng sách, 1b – 2a)
¶ 55 Leave a comment on paragraph 55 0 Chính Ngô Sĩ Liên là nhà sử học đầu tiên đã dựa vào truyền thuyết và dã sử, viết quyển 1 Ngoại kỷ, đưa thời đại mở nước từ đời Kinh Dương Vương, qua đời Hùng Vương đến đời An Dương Vương vào bộ sử chính thức của dân tộc. Tính chất huyền thoại của tư liệu cùng với trình độ và phương pháp sử học đương thời không khỏi làm cho tác giả nửa tin nửa ngờ, vừa khẳng định vừa băn khoăn, và giữ thái độ “truyền tin truyền ngờ” về thời kỳ lịch sử quá xa xưa này. Nhưng rõ ràng đó là một việc làm có ý nghĩa nêu cao lịch sử lâu đời của đất nước, biểu hiện niềm tự tôn dân tộc và đáp ứng yêu cầu nhận thức và tình cảm của một dân tộc đã trưởng thành thời bấy giờ.
¶ 56 Leave a comment on paragraph 56 0 Cũng với tinh thần yêu nước và ý thức dân tộc cao, các tác giả Đại Việt sử ký toàn thư đã dành cho những trang sử chống ngoại xâm của dân tộc nhiều lời bình luận xác đáng, lên án tội ác của bọn xâm lược và nêu cao công lao sự nghiệp của các anh hùng dân tộc.
¶ 57 Leave a comment on paragraph 57 0 Bình luận về khởi nghĩa Hai Bà Trung, Lê Văn Hưu viết những dòng đầy tự tin và tự hào đối với sức sống của dân tộc:
¶ 58 Leave a comment on paragraph 58 0 “Trưng Trắc, Trưng Nhị là đàn bà, hô một tiếng mà các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố cùng 65 thành ở Lĩnh ngoại đều hưởng ứng, việc dụng nước xưng vương dễ như trở bàn tay, có thể thấy hình thế đất Việt ta đủ dựng được nghiệp bá vương”.
¶ 59 Leave a comment on paragraph 59 0 (NK3, 3a)
¶ 60 Leave a comment on paragraph 60 0 Chiến thắng Bạch Đằng phá Nam Hán và công lao của Ngô Quyền cũng được Lê Văn Hưu đánh giá cao:
¶ 61 Leave a comment on paragraph 61 0 “Tiền Ngô Vương có thể lấy quân mới họp của đất Việt ta mà phá được trăm vạn quân của Lưu Hoằng Tháo, mở nước xưng vương, làm cho người phương Bắc không dám sang nữa. Có thể bảo là một cơn giận mà yên được dân, mưu giỏi mà đánh cũng giỏi vậy. Tuy chỉ xưng vương chưa lên ngôi hoàng đế và đổi niên hiệu, mà chính thống của nước Việt ta ngõ hầu đã nối lại được”.
¶ 63 Leave a comment on paragraph 63 0 Những trang sử chống Tống, chống Mông Thát, chống Minh cũng được viết bằng một sử bút thấm đượm tinh thần dân tộc và những lời bình luận xác đáng như vậy.
¶ 64 Leave a comment on paragraph 64 0 Quan điểm và thái độ viết sử trên tinh thần dân tộc đó, bản thân nó cũng là một sản phẩm của lịch sử được kết tinh lại trong Đại Việt sử ký toàn thư.
¶ 65 Leave a comment on paragraph 65 0 Sau khi ra khỏi đêm trường Bắc thuộc, từ thế kỷ X, dân tộc ta đã nhanh chóng khắc phục những hậu quả nặng nề của hơn nghìn năm mất nước, vươn lên mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực nhằm xây dựng lại đất nước và phục hưng nền văn hóa dân tộc. Thời Lý, Trần, Lê đã đi vào lịch sử như một trong những thời kỳ phát triển rực rỡ của đất nước với nhiều chiến công hiển hách chống ngoại xâm và một nền văn hóa Thăng Long đang độ phồn vinh. Trong bối cảnh lịch sử đó, bộ Đại Việt sử ký toàn thư bắt đầu được biên soạn từ đời Trần, đã phản ánh được khí thế vươn lên của dân tộc với một trình độ trưởng thành của chủ nghĩa yêu nước và ý thức dân tộc. Về mặt này, qua từng phần của bộ sử và nhất là những lời bình luận còn ghi lại tên tuổi của tác giả, thì mức độ quán triệt tinh thần dân tộc của mỗi tác giả có khác nhau. Nhưng nhìn chung, đây là một đặc điểm và một giá trị tự tưởng lớn bao quát cả bộ Quốc sử.
¶ 66 Leave a comment on paragraph 66 0 Tóm lại, Đại Việt sử ký toàn thư dù có những hạn chế và sai sót, nhưng với những giá trị lớn về lịch sử, về tư liệu và tư tưởng của nó, là một di sản quý giá của nền văn hóa dân tộc.
¶ 67 Leave a comment on paragraph 67 0 Đại Việt sử ký toàn thư với bản Chính Hòa in từ hệ mộc bản khắc toàn bộ lần đầu tiên năm 1697, vừa lưu truyền lại một khối lượng tư liệu phong phú, có hệ thống về lịch sử dân tộc, vừa phản chiếu trung thành đời sống tư tưởng văn hóa của đất nước trong các thời kỳ lịch sử lúc bấy giờ.
¶ 68 Leave a comment on paragraph 68 0 ⇡ 1 Lê Quý Đôn, Toàn tập, đd, t.3, tr. 20 – 21.
¶ 69 Leave a comment on paragraph 69 0 ⇡ 2 Ngô Thì Sĩ, Việt sử tiêu án, sách chép tay.
Comments
0 Comments on the whole Trang
Login to leave a comment on the whole Trang
0 Comments on paragraph 1
Login to leave a comment on paragraph 1
0 Comments on paragraph 2
Login to leave a comment on paragraph 2
0 Comments on paragraph 3
Login to leave a comment on paragraph 3
0 Comments on paragraph 4
Login to leave a comment on paragraph 4
0 Comments on paragraph 5
Login to leave a comment on paragraph 5
0 Comments on paragraph 6
Login to leave a comment on paragraph 6
0 Comments on paragraph 7
Login to leave a comment on paragraph 7
0 Comments on paragraph 8
Login to leave a comment on paragraph 8
0 Comments on paragraph 9
Login to leave a comment on paragraph 9
0 Comments on paragraph 10
Login to leave a comment on paragraph 10
0 Comments on paragraph 11
Login to leave a comment on paragraph 11
0 Comments on paragraph 12
Login to leave a comment on paragraph 12
0 Comments on paragraph 13
Login to leave a comment on paragraph 13
0 Comments on paragraph 14
Login to leave a comment on paragraph 14
0 Comments on paragraph 15
Login to leave a comment on paragraph 15
0 Comments on paragraph 16
Login to leave a comment on paragraph 16
0 Comments on paragraph 17
Login to leave a comment on paragraph 17
0 Comments on paragraph 18
Login to leave a comment on paragraph 18
0 Comments on paragraph 19
Login to leave a comment on paragraph 19
0 Comments on paragraph 20
Login to leave a comment on paragraph 20
0 Comments on paragraph 21
Login to leave a comment on paragraph 21
0 Comments on paragraph 22
Login to leave a comment on paragraph 22
0 Comments on paragraph 23
Login to leave a comment on paragraph 23
0 Comments on paragraph 24
Login to leave a comment on paragraph 24
0 Comments on paragraph 25
Login to leave a comment on paragraph 25
0 Comments on paragraph 26
Login to leave a comment on paragraph 26
0 Comments on paragraph 27
Login to leave a comment on paragraph 27
0 Comments on paragraph 28
Login to leave a comment on paragraph 28
0 Comments on paragraph 29
Login to leave a comment on paragraph 29
0 Comments on paragraph 30
Login to leave a comment on paragraph 30
0 Comments on paragraph 31
Login to leave a comment on paragraph 31
0 Comments on paragraph 32
Login to leave a comment on paragraph 32
0 Comments on paragraph 33
Login to leave a comment on paragraph 33
0 Comments on paragraph 34
Login to leave a comment on paragraph 34
0 Comments on paragraph 35
Login to leave a comment on paragraph 35
0 Comments on paragraph 36
Login to leave a comment on paragraph 36
0 Comments on paragraph 37
Login to leave a comment on paragraph 37
0 Comments on paragraph 38
Login to leave a comment on paragraph 38
0 Comments on paragraph 39
Login to leave a comment on paragraph 39
0 Comments on paragraph 40
Login to leave a comment on paragraph 40
0 Comments on paragraph 41
Login to leave a comment on paragraph 41
0 Comments on paragraph 42
Login to leave a comment on paragraph 42
0 Comments on paragraph 43
Login to leave a comment on paragraph 43
0 Comments on paragraph 44
Login to leave a comment on paragraph 44
0 Comments on paragraph 45
Login to leave a comment on paragraph 45
0 Comments on paragraph 46
Login to leave a comment on paragraph 46
0 Comments on paragraph 47
Login to leave a comment on paragraph 47
0 Comments on paragraph 48
Login to leave a comment on paragraph 48
0 Comments on paragraph 49
Login to leave a comment on paragraph 49
0 Comments on paragraph 50
Login to leave a comment on paragraph 50
0 Comments on paragraph 51
Login to leave a comment on paragraph 51
0 Comments on paragraph 52
Login to leave a comment on paragraph 52
0 Comments on paragraph 53
Login to leave a comment on paragraph 53
0 Comments on paragraph 54
Login to leave a comment on paragraph 54
0 Comments on paragraph 55
Login to leave a comment on paragraph 55
0 Comments on paragraph 56
Login to leave a comment on paragraph 56
0 Comments on paragraph 57
Login to leave a comment on paragraph 57
0 Comments on paragraph 58
Login to leave a comment on paragraph 58
0 Comments on paragraph 59
Login to leave a comment on paragraph 59
0 Comments on paragraph 60
Login to leave a comment on paragraph 60
0 Comments on paragraph 61
Login to leave a comment on paragraph 61
0 Comments on paragraph 62
Login to leave a comment on paragraph 62
0 Comments on paragraph 63
Login to leave a comment on paragraph 63
0 Comments on paragraph 64
Login to leave a comment on paragraph 64
0 Comments on paragraph 65
Login to leave a comment on paragraph 65
0 Comments on paragraph 66
Login to leave a comment on paragraph 66
0 Comments on paragraph 67
Login to leave a comment on paragraph 67
0 Comments on paragraph 68
Login to leave a comment on paragraph 68
0 Comments on paragraph 69
Login to leave a comment on paragraph 69